Kiến trúc Nhật Bản đương đại (phần 2)

MỘT SỐ XU HƯỚNG KIÊN TRÚC

  1. XU HƯỚNG TÌM TÒI ĐẶC TÍNH DÂN TỘC SAU THẾ CHIẾN THỨ II

Xu hướng tìm tòi đặc tính dân tộc là một xu hướng kiến trác nổi bật ở Nhật Bản trong những năm từ sau Thế chiến thứ Hai cho đến 1960, tức là giai đoạn kiến trúc trước giai đoạn kiến trúc đương đại, là trọng tâm khảo sát của đề tài này. Tuy nhiên, việc mô tả một vài sự kiện trước đó để làm nổi bật toàn cảnh “bức tranh đương đại” của kiến trúc Nhật Bản là một điều cần thiết. Thực vậy, kiến trúc Nhật Bản trong giai đoạn lịch sử này đã có nhiều dấu hiệu tốt đẹp, báo hiệu sự chuyển mình sâu sắc hơn của nó trong những thời kỳ tiếp theo. Những xu thế chủ yếu mà kiến trúc Nhật Bản thể hiện trong giai đoạn này là:

 

– Phát triển mạnh mẽ sự kết hợp truyền thông dân tộc với kỹ thuật hiện đại.

– Tìm sự phù hợp giữa nhu cầu mới của con người với khí hậu, tập quán và truyền thông dân tộc. Họ đã khai thác các yếu tô” trong kiến trúc truyền thông nhưng không đặt mục tiêu phục hồi di sản của quá khứ  trọng tâm, đồng thời cũng không coi việc sao chép những nguyên mẫu trong di sản kiến tróc truyền thông  mục đích. Quan niệm về sự kế thừa và khai thác yếu tô” truyền thông của các kiên trúc sư Nhật Bản trong giai đoạn này đã được người đại diện lổn nhất của họ, “cây đại thụ” của nền kiến trúc Nhật Bản Hiện đại – K. Tange phát biểu rõ ràng như sau: “ truyền thống  vòng đeo cổ quí giá, nhưng chúng ta phải biết đập vỡ chúng thành những mảnh nhỏ và ghép lại dưới dạng thức mới”. Trân trọng truyền thông, nhưng Kenzo Tange chưa bao giờ  người thích sao chép quá khứ.

– Phát huy môi liên hệ “kiến trúc – con người – thiên nhiên” là nguyên tắc truyền thông của kiến trúc Nhật Bản mà thời kỳ đầu khi phương Tây nhạp cảng kiến trúc của họ vào Nhật Bản đã loại bỏ.

Một sô” đại diện tiêu biểu của xu hướng này :

* Kiên trúc SƯ Kenzo Tange với Đài kỷ niệm Hiroshima và bảo tàng (1949 –

1956), Tòa thị chính Karaiusu, Quận Tottori (l955 – 1957);  .

* Ngoài ra còn một sô kiên trúc SƯ Nhật Bản khác cũng tích cực tham gia vào xu hướng này như: Kakalzura với Bảo tàng nghệ thuật hiện đại (1951), Mameru Yamada với Bệnh viện cứu tê” (1955), Takeo Sato với Trung tâm văn hóa tại Nagasaki (1955), Mayekawa với Cung hội nghị Hội đồng thành phô” Tokyo (L958 – i960).

Nhìn chung, trong các công trình kiên trúc này các giá trị tinh hoa của kiến trúc cổ truyền đã được kết hợp nhuần nhuyễn với nếp sống và vật liệu mới như bê tông cô”t thép, thép, kính,…           ‘

 

  1. XU HƯỚNG KIẾN TRÚC CHUYỂN HOÁ LUẬN (Metabolism)

Tôn tại chính thức từ Đại hội thiết kế Quốc tế ở Tokyo năm 1960, Chuyển hoa luậrí (metabolism) là một lý thuyêt bàn về sự vận động và chuyển’ hóa tronơ kiến trác và đô thị. Chuyển hóa luận chủ trương kiến trúc phải đáp ứng hoặc phát triển không ngừng các yêu cầu của xa’ hội, chống sự lão hoá của công trình. Do đó hình thức của nó cần phải chống lại sự tĩnh tại, cố định và có khả năng thích ứng với môi trường và thay đổi. Do chú ý đến tính linh hoạt của kiến trúc nên công trình “xây xong” vẫn còn như dang dỏ, còn phải tiếp tục.

Thay cho những tư duy về hình khối và chức năng, kiến trúc sư có thể tập hung vào vấn đề không gian và có thể thay đổi chức năng. Với quan niệm không gian kiến trúc cần thay đổi và phát hiển không ngừng, họ cho rằng kiến trúc có thể đáp ứng các yêu cầu khác nhau trong mỗi thời điểm một cách hoàn chlnh.

Kisho Kurokawa  người đề cập đầu tiên đến khái niệm “Chuyển hóa luận” vào năm 1954 và đã thu hút được khá nhiều gương mặt nổi tiếng đương thời của kiên trúc Nhật Bản như Kenzo Tange, Atara Isozaki, Fumihiko Maki, Kiyonari Kikutake,… Cộng hưởng với tư tưởng của chủ nghĩa Vị lai về thành phố hiện đại với những bộ phận đang chuyển động và biến đổi, những nhà Chuyển hóa luận Nhật Bản lại được tiêp sức bởi sự lớn mạnh và thịnh vượng kinh tế những năm 1960 – thời điểm của sự tăng trưởng và tinh thần lạc quan, đưa ra một hiện thực công nghệ cao cho những dự báo đầu tiên của nhóm Archigram ở Anh. Với tham vọng phát triển thành phô” như những cân trúc không gian cực lớn cMegastructure), nhiều khi ý tưởng của các nhà Chuyển hóa luận trở thành không tưởng, tiêu biểu nhât íà đồ án Quy hoạch mở rộng thành phố’ Tokyo của K. Tange.

 

Trên cơ sỏ của tính “động” và tính “luôn thay đổi để thích ứng” trong truyền thống văn hóa Nhật Bản, Kisho Kurokavva đề nghị: “chúng ta cần phải phá vỡ kiến trúc thành những mảnh vụn, có thể thay đổi và không thể thay đổi được…”, và “nếu chúng ta thay thế cho những bộ phận chịu sự thay đổi, toàn thể công trình sẽ đứng vững lâu hơn và năng lưựng sẽ được bảo toàn trong một cuộc vận hành kéo dài”. Với cách nhìn nhận này, Chuyển hóa luận thực sự trỏ thành cuộc cách mạng trong quan niệm về kiến trúc. Họ quan niệm trong vật thể kiến trúc tồn tại hai bộ phận, một bộ phận của cái khả biến và bộ phận kia thuộc về cái bất biến. Những cái bất biến (không thể thay đổi) chính là các giá trị “tinh thần” của công trình như biểu tượng, nội hàm tôn giáo, sở thích thẩm mỹ,… là những cái mà chúng ta chl có thể nhận biết được bằng vốn sống và nhận thức văn hóa của mình. Còn những bộ phận khả biên (có thể thay đổi) là các yếu tô như công năng, công nghệ, vật liệu xây dựng,… là những cái mà chúng ta có thể nhận biết được dể dàng bằng trực giác, có thể cân đong, đo đếm được. Vì vậy, hai yếu tố khả biến và bất biên   chính là những yêu tố đã tạo cho kiến trúc Chuyển hóa luận một sức sống mãnh liệt để vừa hấp thu được các giá trị quốc tế và hiện đại, lại vừa lưu giữ được đặc trưng của văn hóa truyền thống.