Kiến trúc Nhật Bản đương đại

  1. NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG

Thế kỷ XX đã chứng kiến sự bùng nổ của rất nhiều trào lưu nghệ thuật cũng như kiến trúc phát xuất từ Châu Âu và sau đó lan tỏa trên toàn thế giới. Trong số đó, trào lưu kiến trúc Hiện đại (Modem Architecture) có phạm vi ảnh hưởng lớn nhất và trong mức phát triển sau cùng của nó, Phong cách Kiến trúc Quốc tế (International Architecture Style),… đã chứa đựng nhiều biểu hiện bế tắc trong các tuyên ngôn về kiến trúc Hiện đại. Đúng vào thời điểm này, ở Nhật Bản lại nổi lên xu hướng kiến trúc gây xôn xao dư luận kiến trúc thế giới. Người ta như chợt tlnh giấc khi chứng kiến công trình của các kiến trúc sư như Kenzo Tange, Kisho Kurokawa, Fumihiko Maki, Tadao Ando,… lần lượt xuất hiện trong những dáng vẻ cực kỳ phong phú, tất cả đều rất hiện đại song lại đậm nét văn hóa truyền thông dân tộc.

 

Nét nổi bật cửa kiến trúc đương đại Nhật Bản chất lượng cao trong các công trình kiến trúc và sự ít quan tâm đến những vấn đề các trào lưu, trường phái hay phong cách. Nguyên nhân tạo nên những kết quả phong phú như vậy trong sự phát triển của kiến trúc đương đại ở Nhật Bản có thể xem xét từ một vài khía cạnh sau:

* Trước hêt  do đặc điểm phát triển tự nhiên của những điều kiện văn hóa trong xã hội Nhật Bản,  nơi mà những kiểu mẫu truyền thông và hiện đại có thể cùng nhau tồn tại một cách thuận lợi. Hầu như mọi thứ được liên kết với truyền thông ỏ Nhật Bản gắn liền với sự bảo tồn theo nghĩa rộng. Trong quá trình đó, người Nhật Bản không chỉ mong muôn giữ gìn truyền thông của họ, mà còn muốn phát triển chúng xa hơn.

* Kiến trúc Nhật Bản không chỉ có nhiều thời kỳ, mà nó còn ỏ’ trong tình trạng liên tạc mất Ổn định. Nguyên tắc tổng quát của kiến trúc Nhật Bản  không xây dựng vì mộí sự vĩnh cửu. Người Nhật có quan niệm liêng về việc gìn giữ truyên thống không câu nệ vào “tính nguyên bản” cũng như “tính vĩnh cửu”. Thậm chí những ngôi đền của họ cũng không cần phải tồn tại lâu dài (ngôi đền thờ Thân đạo ở Ise  một ví dụ). Phải thừa nhận rằng nhân tô” này dựa trên một chữ định chắc chắn. Trong khi ở Châu Âu không được phép xây dựng gây tổn hại đến những “địa điểm thiêng liêng” (genius loci) hoặc là làm hại đến tổng thể. Câu hỏi này dường như ít quan trọng trong kiến trúc và đô thị Nhật Bản. Ý tưởng về “sự tải thiết theo định kỳ” (“periodic reconstruction”) được thể hiện trong những kiến trúc Shinto giáo đã phản ánh bản chất của Shinto giáo về tính không bền. Trong cách quan niệm này có cái gì đó được giảm nhẹ thì đó chính là yếu tô’ vật thể của ngôi đền. ở đây ta bắt gặp sự tương đồng giữa tín ngưỡng Shinto với nguyên lý Phật giáo về sự luân hồi, và tính pầù đa – một cơ sở quan trọng trong quan niệm thẩm mỹ và nghệ thuật của dân tộc Nhật Bản. Thái độ gần như là kỳ quặc và khó hiểu này của người Nhật Bản đang thể hiện khá rõ cả trong những công trình to lớn của họ.

 

Một nét không thể thiếu được khi nói đến văn hóa truyền thống Nhật Bản là những tư tưởng của Thiền học (Zen) và các quan niệm nghệ thuật đặc sắc của nó, tồn tại song song trong sự kết hợp với nhiều tư tưởng và tôn giáo khác ở Nhật Bản. Phải nói rằng khía cạnh này trong tinh thần thẩm mỹ Nhật Bản rất dễ hòa hợp với tư tưởng của triết học Lão – Trang cũng như Thiền học du nhập từ Trung Hoa, để rồi cuối cùng ngưng kết trong hai khái niệm đơn giản gọi là wabi và sabi Wabì thì diễn đạt sự tôn thờ cái đơn giản, kiệm ước, được chắt lọc đến mổc tinh tê nhất, còn sabi tạo nên những xúc cảm mỹ học được kết lắng từ việc chiêm nghiệm, thưởng thức cái đơn giản, kiệm ước, tinh tế ấy với cảm xúc thanh tao, tẩy trân. Tinh thân đó nói lên rằng vẻ đẹp thật sự ẩn chứa trong nội giới của mỗi.cá thể mà không cân viện đến một ngoại giới cầu kỳ.

Cảm hứng chung của người Nhật luôn có sự tương hợp với lối sống dễ thích nghi của họ. Họ thật sự thích thú các hình thức đơn giản trong ngôi nhà của mình,  điều đó m nổi bật tinh thần của “ chủ nghĩa Nhật Bản” như cách mà người phương Tây thường ca ngợi. Tính trông trải được người Nhật cảm nhận khác với các khoảng trông của phương Tây. Vì thế sự ưa thích khái niệm không liên tục, gián đoạn (gap) của người Nhật Bản cũng khá xa lạ với thẩm mỹ của người phương Tây. Theo cách hiểu đó thì “nghệ thuật của việc tạo nên sự trống trải” thực sự là một hình thức tiềm ẩn của kiến trúc Nhật Bản Hiện đại.

* Mặt khác, Nhật Bản ngày nay lại là một trong số không nhiều các quốc gia đi đầu trong rất nhiều lĩnh vực công nghệ cao của thế kỷ, với năng lực về điện khí và truyền thông của nó trong tiến trình chung hướng tới sự tiến bộ toàn cầu của xã hội thông tin.

* Nhật Bản không có truyền thống đô thị lâu dài như Châu Âu, kết quả là các kiến trúc sư Nhật Bản không gặp những trở ngại như đồng nghiệp của họ ở phương Tây khi giải quyết những vấn đề đô thị. Vì vậy họ hoàn toàn có thể chấp nhận mà không cần lý giải để có được những cấu trúc tân kỳ trong việc phát triển các thành phố’ của mình.

* Một nguyên nhân làm nên đặc tính kiến trúc Nhật Bản có thể tìm ở trong sự bùng nể kinh tếcủa đất nước họ đạt được trong những năm gần đây. Nền “kinh tế bong bóng” khởi động nên một trào lưu xây dựng khổng lồ, báo hiệu triển vọng to lớn về những điều thú vị trong kiến trúc. Nó giúp cho các kiến trúc sư tiền phong giành thắng lợi trong các nhiệm vụ to lớn. “Quả bóng kinh tế” đã tác động lên nhiều khía cạnh. Sư hiện diện của nhiều kiến trúc sư nước ngoài ở Nhật Bản đã để lại những dấu ấn khá đặc sắc, và càng làm phong phú hóa bức tranh đa dạng của kiến trúc đương đại ở Nhật Bản.

Tất cả những điều này đã ảnh hưởng vào Kiến trúc Nhật Bản, đang thu hút cả việc phản ánh và sự diễn đạt. Sự tồn tại của những ảnh hưởng mang tính truyền thông vào kiến trúc hiện đại  một động cơ quan trọng cho sự đa dạng được tìm thây trong kiến trúc Nhật Bản đương đại. Điều này đã tồn tại lâu dài trong suốt lịch sử văn hóa của đất nước họ và có lẽ sự phức tạp, đa dạng của nó sẽ không mất đi mà thậm chí còn có thể phát triển hơn nữa.