Các học thuyết kiến trúc của Kisho Kurokawa

Sự xuất hiện của học thuyết cộng sinh trong kiến trúc được mở đầu bằng sự ra đời của phong trào Chuyển hữẩ luận (metabolism) ở Nhật Bản những năm 1960. Xét về mặt xã hội đó là một sự phê bình kiến trúc và ch! trích xã hội hiện đại được phân tích từ những triển vọng của kiến trúc trong thời đại bùng nổ thông tin và khoa học kỹ thuật.

 

Kurokawa, là người đã nắm bắt được bản chất thực của Chuyển hóa luận, những tác phẩm của ông được coi như những kiểu mẫu cho những khát vọng của phong trào với những ân tượng sâu sắc về sự gắn bó giữa khoa học và sự hư cấu (fiction); những bài viết của ông đã khẳng định cơ sở vững chắc cho những người theo chủ nghĩa Chuyển hóa. Vận dụng các nguyên tắc mềm mại, linh hoạt của tư tưởng Phật giáo, Kurokawa đề xướng trước tiên lý thuyết Chuyển hóa luận (metabolism) như một cách diễn đạt mới các “ vòng đời” của các công trình kiến trúc trong cái chu kỳ vô tận của sự sinh sinh – hóa hóa mà Phật giáo coi  một nguyên lý bất diệt.

Vai net ve kien truc su kisho kurokawa 1

Những ý tưởng đầu tiên của Kurokawa được trình bày trong đồ án Wall Cluster (1960) và Helix city (1961). Luận điểm của học thuyết Chuyển hóa đã được chứng minh một cách thuyêt phục nhât trong những capsule ở tòa tháp Nagakin ở Tokyo (1972) đầy lôi cuốn của ông. Ở đó phản ánh sự biến đổi của con người và kỹ thuật. Trong tòa nhà này ông đã có những đề xuất hết sức thông minh và táo bạo, để chứng minh những luận điểm này là hoàn toàn hiện thực trong kiên trúc hiện đại. Đó là ngôi nhà có các bộ phận hết sức linh hoạt, chúng dường như có thể thay đổi được, trong khi ống trụ kỹ thuật lại là một thành phần cố’ định, đảm bảo cho các hoạt động trong ngôi nhà được thực hiện một cách thông suốt.

Là một kiến trúc sư, ông đã dành sự chú ý đặc biệt cho việc nghiên cứu về sự cộng sinh văn hóa trong kiến trúc mà những biểu thị cơ bản của nó bao gồm sự cộng sinh giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, giữa quá khứ và hiện tại, giữa không gian bên trong với không gian bên ngoài,  những khía cạnh mà klên trúc Hiện đại đã bỏ qua. Xuât phát từ quan niệm đó, Ông chủ trương kiến trúc không nên được thiết kế rõ ràng về không gian, mà phải tạo ra ở đây những yêu tố nhập nhằng và tối nghĩa. Công nghệ và con người trong mối quan hệ “ cộng sinh” thì không tồn tại ở thế đối lập, mà phải trong sự tương tác hỗ trợ lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển, trong mối quan hệ này thì công nghệ phải írở thành “sự mở rộng của con người”.

 

Kể từ lân đâu tiên những ý tưởng về cộng sinh được đề cập, ngày nay nó đã trở nên phổ biến trong nhiều lĩnh vực và trở thành một khái niệm thông dụng trong lý luận cũng như thực hành thiết kế kiến trúc và  một đóng góp tích cực vào kho tàng lý luận của kiến trúc.

Nền tảng triết học sâu sa của học thuyết cộng sinh được bắt nguồn từ văn hóa truyền thông của Nhật Bản, đó thực chất  một nền văn hóa dựa trên sự dang hợp, hòa trộn của nhiều tư tưởng triết học và tín ngưỡng khác nhau như Phật glẩb” (có vai trò then chốt), các tư tưởng Khổng, Lão và tín’ngưỡng Thần đâọXShintó) của cư dân bản địa. Nhưng có lẽ chính các tư tưởng về tính iuẫn hồi (samsara) của Phật giáo là những gợi ý quan trọng nhất cho việc hình thành triết lý cộng sinh trong kiến trúc của Kurokawa. Điều này trùng hợp một cách khá tự nhiên với quan niệm cơ bản trong triết học của người Nhật Bản là “điều này thì cũng tương tự như những điều khác ”.

Trong nhiều trường hợp, cộng sinh hoàn toàn có ý nghĩa của sư cùng tồn tạị , sự thoả hiệp hoặc là sự hài hoà, Cộng sinh còn có thể là tình trạng trong đó hai yếu tố đối lập hoặc thậm chí có thể chống lại nhau, cũng vẫn phải cần đến nhau. Điều này đã giải thích tại sao xã hội Nhật Bản luôn có sự chấp nhận dễ dàng các điều kiện mới, ví như sự gia tăng mức độ hỗn độn trong các thành thị, cũng như sự tiến triển vượt bậc của khoa học – kỹ thuật.

Một số đặc đlểm trong sáng tác của K.Kurokawa

Từ những thực nghiệm của mình ở khắp nơi trên thế giới, ông tạo nên một dấu ấn riêng của mình qua nhiều công trình kiến trúc thuộc đủ thể loại, nhưng không xa rời nguyên lý cơ bản của học thuyết cộng sinh với những hình thức kiến trúc phong phú.

Không sao chép quá khứ, ông cố gắng tạo nên những sự nối tiếp giữa quá khứ, lịch sử và hiện tại. Trong các công trình của ông ta luôn thấy phảng phất bóng dáng của những mẫu mắt cáo có từ thời đại Edo, hoặc những mái nhà thoáng nhìn lầm nhớ đến ngôi nhà Nhật Bán truyền thống. Những chủ định của Kurokawa đã đạt tới sự hòa trộn một cách sâu sắc giữa các yếu tổ’ văn hóa phương Đông với văn hóa phương Tây.Vai net ve kien truc su kisho kurokawa 2

Kurokawa vừa đạt được sự tinh tế về không gian theo quan niệm của người Nhật, trong khi tiêp cận với những hình mẫu phương Tây, đồng thời khéo léo gắn kêt chúng lại. với nhau trong cùng một công trình. Việc sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau cho phép những thứ thực tế không liên quan gì với nhau có thể cùng tồn tại, và xa hơn. nữa có thể là cả sự hòa điệu của chúng. Thực tế ông ngày càng hướng tới một phong cách giàu tính lịch sử, nhưng tinh tế hơn như có thể thây trong công trình SALTAMA PREFECTURAL MUSEUM OF ART (1982).

Đặc biệt trong những năm gân đây, phản đôi việc làm cho truyền thông văn hóa dân tộc bị lu mờ bởi tính duy lý kiểu phương Tây cũng như việc sao chép đơn thuần kiến trúc truyền thông, kiến trúc sư Kurokawa đã tiếp tục nổi bật trong hàng ngũ các kiên trúc sư đương đại Nhật Bản trong việc hướng tới những giá trị giàu tính ấn dụ và những biểu tượng trừu tượng kiến trúc.